Người ta thường nghe những lời như: “Hãy trở về với khoảnh khắc hiện tại, không quá khứ cũng không tương lai”, “hãy thưởng thức ý thức về khoảnh khắc hiện tại, không ký ức” hay “hãy khám phá sự tri giác thuần túy, tự do, không khái niệm (1).”
Hãy xem xét mệnh đề thứ nhất : nó giả định rằng có nhiều phương cách thức ý thức:
Cách thứ nhất là một ý thức luôn hướng về tương lai và quá khứ. Nó giằng co chúng ta, gây nên đau khổ, hoài niệm, hối tiếc, lo sợ và hy vọng. Nó ngăn cản ta sống trong hiện tại. Nó mang tính tưởng tượng, là sản phẩm của kiến tạo, phóng chiếu và phủ lên thực tại như một màn hình giả dối.
Cách thứ hai là một ý thức thuần túy, trong hiện tại, được hiểu như khoảnh khắc vĩnh cửu của sự hiện diện thuần khiết, hoàn toàn mở ra cho lúc này, cho cái đang là, không bị che mờ, biến dạng.
Khi đó, mục đích của đời sống nội tâm sẽ là giảm thiểu cách thứ nhất để nuôi dưỡng cách thứ hai. Cách thứ hai được trình bày như một lý tưởng, còn cách thứ nhất là nguồn gốc của mọi khổ đau.
Nhưng một ý thức trong đó chỉ có hiện tại, có thật sự khả hữu hay không ? Henri Bergson cho rằng không, bởi vì:
“… ý thức trước hết có nghĩa là ký ức. Ký ức có thể hạn hẹp; có thể chỉ bao trùm một phần rất nhỏ của quá khứ, như vài điều vừa mới xảy ra ... nhưng ký ức vẫn hiện diện, nếu không thì ý thức cũng không còn. Có thể nào có được một ý thức không giữ lại bất cứ gì của quá khứ, một ý thức luôn luôn tự quên mình, luôn chết đi và tái sinh ở mỗi khoảnh khắc ? Đó phải chăng chính là ... vô thức? Khi Leibniz nói về vật chất, rằng nó là ‘tinh thần của khoảnh khắc’, phải chăng có nghĩa là nó vô cảm ? Vậy, mọi ý thức đều là ký ức — sự bảo tồn và tích lũy quá khứ trong hiện tại.
Nhưng mọi ý thức cũng là sự dự phóng về tương lai. Hãy xét hướng đi của tâm trí bạn vào bất cứ lúc nào: bạn sẽ thấy nó quan tâm đến cái đang là, nhưng chủ yếu là vì cái đang là sẽ đưa đến cái sẽ là. Sự chú ý là một sự chờ đợi, và không có ý thức nào mà lại không có một mức độ chú ý đối với dòng đời chuyển động. Tương lai gọi ta, hay đúng hơn, kéo ta về phía nó. Lực kéo liên tục này khiến ta tiến bước trên con đường thời gian, và cũng khiến ta luôn hành động. Mọi hành động đều là một sự lan lấn vào tương lai.
Giữ lại cái đã không còn, và dự đoán cái chưa đến — đó là chức năng đầu tiên của ý thức. Sẽ không có hiện tại đối với ý thức, nếu hiện tại chỉ là khoảnh khắc toán học. Khoảnh khắc ấy chỉ là một ranh giới thuần túy lý thuyết giữa quá khứ và tương lai; ta có thể hình dung nó, nhưng không bao giờ tri giác được nó; khi ta tưởng rằng mình bắt được nó, thì nó đã rời xa ta, để biến vào quá khứ. Điều mà ta thực sự tri giác là một độ dày của thời lượng, gồm hai phần: quá khứ trực tiếp của ta và tương lai sắp đến. Ta tựa vào quá khứ kia và nghiêng mình về tương lai ấy. Chính việc tựa và nghiêng như vậy là đặc tính của một hữu thể có ý thức. Vì thế, nếu muốn, ta có thể nói rằng ý thức là sợi dây nối liền cái đã là và cái sẽ là, một cây cầu giữa quá khứ và tương lai.”
Nếu bạn vẫn còn nghi ngờ luận điểm của Bergson, hãy làm một thí nghiệm nhỏ.
Ai đó nói : “nồi cơm đã chín”
Bạn muốn nghe nó “trong hiện tại”, thuần túy, không phán xét, không liên hệ với quá khứ, không ký ức, không dự đoán. Điều đó hoàn toàn không thể.
Vì khi bạn nghe đến từ “chín”, thì từ “cơm” đã biến mất. Bạn không còn nghe cả câu, mà chỉ nghe một từ, không thể hiểu được điều mà "ai đó" nói.
Không cần cho rằng bạn không thể hiểu được “nồi cơm”, vì khi bạn nghe đến “cơm”, thì “nồi” đã biến mất, và có thể nói rằng ý thức thuần hiện tại kéo dài trong thời gian của một từ kép, hay cả một câu. Tuy nhiên, bất kể khoảng thời gian nào được chọn, ngôn ngữ chỉ mang ý nghĩa nếu nó tổng hợp một yếu tố hiện tại với một yếu tố đã thuộc về quá khứ.
Vì vậy, mọi ý thức đều là ký ức, và một ý thức "thuần túy hiện tại" là điều không thể có.
Giả sử nó có, thì — như Bergson cho thấy — càng bị thu hẹp vào hiện tại, thì ý thức càng tiến gần đến vô cảm. Một ý thức hoàn toàn ở trong hiện tại, thật sự chỉ ở trong hiện tại, sẽ là vô cảm, một dạng hôn mê.
Ngược lại, càng thống nhất quá khứ với hiện tại và/hoặc tương lai, thì ý thức càng mạnh mẽ và sâu sắc.
Đối với âm nhạc, cũng như đối với ngôn ngữ (2) điều này cũng đúng. Nghe nhạc mà chỉ ở trong hiện tại thuần túy, không liên tưởng đến những nốt, những hợp âm, những giai điệu trước đó và dự cảm những cuốn hút có thể sắp hiện lên trong dòng nhạc, thì cũng như không cảm nhận được gì. Mọi nốt nhạc sẽ chỉ là những tiếng động vô nghĩa.
Ký ức vì thế trở thành chìa khóa của sự chứng ngộ Bản Ngã vượt thời gian.
Cái Ngã của chúng ta, bản tính của chúng ta, không phải là một nền tảng trơ lì lên đó những hình ảnh từ đâu đó được phóng chiếu. Bản Ngã chính là ý thức tổng hợp, thống nhất những phức biến của nội tâm phần nào trong suốt sự hiện hữu của nó.
Vậy thì có cần phải từ bỏ ý tưởng sống “trong hiện tại” hay không?
Không. Chỉ cần hiểu lại nó.
Ý thức về hiện tại không chỉ hướng đến điều đang xảy ra (3), mà là nhận ra chính mình như sự thống nhất những sự kiện đa dạng trong tri giác và ký ức.
Hiện tại đích thực đơn giản chính là ý thức sự tổng hợp sống động nối kết quá khứ với hiện tại, phóng chiều vào tương lai (4).
Ta có thể nhận ra nó mỗi khi một ký ức xuất hiện, như một kinh nghiệm liên kết giữa cái đã qua và đang xảy đến, cho phép dự phóng tương lai.
Nói cách khác, "cứu độ" không đến từ ý thức về hiện tại, mà từ ý thức về quá khứ, đưa đến căn tính vượt thời gian của ý thức, đến Bản Ngã vô thường của chúng ta, trong cái thế giới đặc thù của mình, nguồn cội của mọi cảm nhận, suy diễn ... trong thế giới ấy (NHV).
(Không nhớ tác giả)
Chú thích :
(1) khái niệm thuộc về ký ức
(2) âm nhạc là một dạng ngôn ngữ
(3) kiểu như: “tôi ý thức mình đang nhức đầu nhưng không bình luận", như thế là tôi đang "thiền”
(4) "Tôi nhức đầu", nhưng với kinh nghiệm, tôi biết rằng nó sẽ gia tăng, rồi thuyên giảm, để biến mất, và sự thư giãn, chú tâm vào việc khác, sẽ khiến nó biến đi nhanh hơn
Ghi thêm :
Cần nói là người viết bài trên theo "tantra bất nhị", Pratyabhijnâ, một trường phái hiện diện từ thế kỷ thứ 9, ở vùng Kadhmir, dựa trên biểu tượng thần Shiva. Chỉ có câu cuối cùng "Nói cách khác ..." là do tôi viết.Tôi không chắc triết lý ấy thừa nhận Bản Ngã là vô thường, và "thế giới cảm nhận được" là một "thế giới đặc thù" của mỗi người.
Nhận xét của tôi về chuyện này là :
Tập trung vào hiện tại, thí dụ trong thiền quán, không phải là tập trung vào một câu nói, kiểu như "nồi cơm đã chín", mà vào một cảm giác, một "hình ảnh nội tâm", đang hiện lên trong tâm mình. Khi ấy "nồi cơm chín" là một hình ảnh, không thể phân ra : "nồi cơm", và "chín". Kiểu như hít vào lạnh (Vipassana) ở lỗ mũi là MỘT cảm giác, không phân tích ra được thành lỗ mũi + hít vào + lạnh, ý thức cái này quên mất những cái kia ...
Dù sao, phải công nhận các bạn này đã có nhận xét thú vị.