Tình cờ thấy một bức thư bàn về tranh luận giữa Locke và Leibnitz (duy nghiệm và duy lý), nhận được từ đã rất lâu (vài chục năm !), không nhớ ai gửi (ký tên L.R.), xin phỏng dịch ra mời các bạn xem qua và cho ý kiến ...
§§§§§§§§§§
Cuộc “tranh luận” giữa Locke – nhà kinh nghiệm luận – và Leibniz – nhà duy lý – là cuộc đối đầu giữa quan niệm "a posteriori" (hậu nghiệm ?)(Aristote) và quan niệm "a priori" (tiên nghiệm ?) (Platon) về tri thức.
Đó chính là hai cách nhận thức thế giới, tưởng như không thể dung hòa, nhưng lại có thể bổ sung cho nhau (xem « Empirisme
contre rationalisme… ou la déduction et l’induction pour ne pas désespérer de la raison » – liên kết : http://philosophie.initiation.cours.over-blog.com/article-empirisme-cont (*).
Theo Locke, không hề có ý niệm bẩm sinh; chỉ có kinh nghiệm kiến tạo nền tảng cho tri thức.
Ngược lại, theo Leibniz, ta không cần những yếu tố bên ngoài : tất cả đều đã có sẵn trong “linh hồn”, chỉ chờ những cơ hội nhất định để được hiện thực hóa. Giống như một bộ máy tự động có thể triển khai một số tác động vốn đã được lập trình trong chính nó, các ý niệm hiện lên theo các quy luật nội tại được thiết lập từ trước. Đối với Leibniz, “linh hồn” đầy ắp những ý niệm mà nó không ý thức được, so với rất ít yếu tố đến từ cảm nhận bên ngoài. Ta có thể so sánh điều này với "bộ nhớ ảo" và "bộ nhớ truy cập trực tiếp (RAM)" trong máy tính. Leibniz không xem linh hồn như một cái thùng rỗng thụ động, mà trái lại, là một tác nhân chủ động sản sinh và triển khai các ý niệm bằng chính tự thân nó. Leibniz dựa vào vấn đề căn tính cá nhân để củng cố lập luận (...) của mình: xem « L’identité personnelle entre Locke et Leibniz » :http://www.ac-grenoble.fr/lycee/vincent.indy/spip.php?article747 (*)
Hệ quả là vấn đề không chỉ siêu hình mà còn mang tính khoa học, như được thể hiện rõ trong nghiên cứu « Leibniz et la méthode des hypothèses » của François Duchesneau (Université de Montréal). Dưới đây là một đoạn trích đáng chú ý:
*************
Liệu phê phán của Locke đối với một phương cách sử dụng giả thuyết nào đó có nguy cơ vượt quá, hay không, cái khuôn khổ phương pháp luận Descartes – khuôn khổ mà Leibniz không ngừng xét lại kể từ thất bại của "Hypothesis physica nova" và được ông hoàn thiện sau cải tổ cơ học và sự ra đời của động lực học ? Vấn đề càng nghiêm trọng vì cách tiếp cận của Locke dường như củng cố mô hình khoa học mà Newton cổ vũ, trong một bối cảnh trong đó triết học tự nhiên chống lại với những nền tảng siêu hình mà Leibniz muốn đặt ra cho khoa học.
Một mặt, Leibniz cho rằng ta phải thiết kế những ý niệm rõ ràng để gắn liền chúng với những ý niệm mơ hồ của giác quan, nhờ đó ta mới có thể phân tích — bằng hình tượng và mô phỏng — những yếu tố tiềm ẩn dưới các hiện tượng mà mình quan sát.
« Những ý niệm đến từ cảm giác thì mơ hồ, vì thế năng lực tạo ra chúng chỉ cho ra những sự mơ hồ. Không thể biết được liên hệ giữa các ý niệm thu thập qua kinh nghiệm , trừ khi gắn liền chúng với những ý niệm kèm theo rõ ràng hơn, như người ta đã làm (...) với màu sắc của cầu vồng và lăng kính. Phương pháp này cung cấp một sự khởi đầu của việc phân tích, rất hữu ích cho vật lý học. Nếu tiếp tục theo hướng đó, tôi tin rằng y học sẽ đạt được tiến bộ đáng kể với thời gian. »
Lập trường của Leibniz đưa dến một tầng cấp thứ ba, kết hợp lý tính với việc phân tích liên hệ giữa những yếu tố đến từ kinh nghiệm. Sự kết hợp này đòi hỏi, theo tôi nghĩ, sự chuyển hóa một cách tương đương các ý niệm đến từ sự vật được cảm nhận, sang những kiểu mẫu hình học và cơ học, rồi gắn vào các kiểu mẫu ấy khả năng suy ra sự giải thích hợp lý cho các hiện tượng. Nhiều đoạn văn chứng tỏ mối tương quan giữa sự thực được cảm nhận và sự thực suy ra từ lý tính, xây dựng tính kiên cố của các liên hệ giữa những yếu tố đến từ kinh nghiệm trên một hệ thống lý tính. Chẳng hạn:
« (...) mối liên hệ giữa các hiện tượng, vốn bảo đảm thực tính cảm nhận ngoài chúng ta, được kiểm chứng nhờ những sự thực đến từ lý tính; giống như các hiện tượng quang học được sáng tỏ nhờ hình học. »
Ta có thể hiểu rằng, với việc đòi hỏi một nền tảng lý tính như thế, Leibniz từ chối đặt sự phát triển của “triết học thực nghiệm” ra ngoài giới hạn của khoa học chứng minh. Ngược lại, ông muốn xây dựng những giả thuyết có thể giải thích các dữ liệu được kinh nghiệm, trong sự tương hợp với các định luật phổ quát của tự nhiên, có thể được đồng nhất với sự thực của lý tính.
Theo tinh thần ấy, có lẽ ta nên hiểu (...) phương pháp luận mà Leibniz đưa ra, đối lập với Locke như sau:
Xét đến các lập trường phương pháp luận và nhận thức luận của mỗi bên, có vẻ khó có thể quan niệm được một sự đối nghịch tuyệt đối giữa cách tiếp cận “kinh nghiệm” của Locke và cách tiếp cận “duy lý” của Leibniz.
Tuy nhiên, xây dựng khoa học của hiện tượng trong cả hai trường hợp đều là một công việc hỗn hợp, bao gồm lập luận kinh nghiệm và lập luận lý tính. Mặc dù vậy, các quan niệm vẫn rất khác nhau, tạo nên những phong cách lập luận dị biệt. Cần nói là những phong cách ấy đã được minh họa trong sự phát triển sau này của khoa học tự nhiên mà hai triết gia đều là những nhân vật tiên phong.
Vấn đề thực ra vẫn bỏ ngỏ: liệu các cấu trúc lý thuyết — không thể thiếu để việc giải thích hiện tượng đạt được đến mức độ khái quát và hệ thống đủ cao — có thể tự biện minh trong khuôn khổ của kinh nghiệm khả hữu, hay sự biện minh đó đòi hỏi phải tham chiếu đến những nền tảng lý tính vượt ngoài phạm vi ấy?
(nguồn: www.bib.umontreal.ca/colloqueNE/textes_des.../Duchesneau.pdf](http://www.bib.umontreal.ca/colloqueNE/textes_des.../Duchesneau.pdf) (*)
---
Các quan niệm kinh nghiệm luận và duy lý luận có những hệ quả nền tảng về mặt học tập: xem
icar.univ-lyon2.fr/membres/krobinault/coursAIA/Apprentissage2.pdf (sao chép địa chỉ vào thanh URL) (*).
L.R.
Nguyễn Hoài Vân phỏng dịch
(*) Các liên kết (quá cũ) đều không chạy