Thiền quán ở đây gắn liền với khái niệm Méditation
Chữ Meditation đến từ căn Âu "Med" : hàm ý tập trung tinh thần suy tưởng, chiêm niệm, sang Hy lạp "Medein" là đo lường, medesthai, nghĩ ngợi, băn khoăn, và cả Medousa ("cô nàng thiền định"), tên đăt cho một nữ quỷ có cái nhìn suyên thấu, biến người thành đá !
Lần sang La Tinh với meditari, meditatio … cũng là suy tư nhưng thêm yếu tố rèn luyện.
Thêm vào đó, căn Med còn đưa đến mederi, medicare, chữa trị, medicus, y sĩ, medicina, y khoa … và modus : sự chừng mực trong mọi sự, cũng như modulus : nhịp điệu.
Dù cho khái niệm này có những khác biệt với những gì chúng ta, người Việt Nam, quan niệm về Thiền học, vấn đặt ra vẫn là : điều gì đã khiến con người, trong những nền văn hóa khác nhau, đều đề cao một trạng thái tĩnh lặng, tập trung tư tưởng, rèn luyện tâm tư, có khi như một phương thuốc, với hy vọng chữa lành những đau khổ dằn vặt của tâm linh.
§§§§§§§§§§§§§§§§§§
Socrate :
Trong sách "Bữa Tiệc", chúng ta nghe Alcibiade ("đàn ông đẹp nhất Hy Lạp") kể chuyện Socrate, trong một cuộc viễn chinh, đứng im lặng từ sáng sớm đến hừng đông hôm sau ... Chỉ khi mặt trời ló dạng, ông mới cúi chào và bỏ đi. Theo Alcibiade, Socrate cũng tạo kinh ngạc trong quân ngũ, khi đi chân đất trên băng đá, với trang phục mỏng manh giữa giá lạnh mùa đông.
Cũng trong "Bữa tiệc", Aristodéme thuật lại việc Socrate rủ ông cùng đến dự tiệc ở nhà Agathon. Trên đường, Socrate bảo Aristodème cứ đi trước, trong khi ông nấn ná phía sau. Khi thực khác sửa soạn dùng bữa, thì một người đến sau cho bi trong thấy Socrate đứng trầm ngâm dưới cổng một căn nhà gần đó, gọi không trả lời ... Aristodème xin đừng làm rộn Socrate, rằng ông ta thường ở trong trạng thái ấy, cử để ông tự đến. Quả nhiên, khoảng giữa bữa tiệc Socrate xuất hiện.
Socrate nói, trong sách Phedon :
"(...) linh hồn, cái vô hình — vươn mình hướng về một nơi vô hình khác giống như nó, cao quý, tinh khiết, hướng về cái Vô hình đích thực, với Hades (thần chết - NHV), vị thần hiền lành và khôn ngoan, nơi mà (...) linh hồn tôi cũng sẽ phải đến? Phải chăng chúng ta nén tin rằng linh hồn (...) sẽ bị tách khỏi thân xác để rồi tan biến hoàn toàn và tiêu mất, như phần lớn người ta quả quyết? Hoàn toàn không phải vậy, Cébes và Simmias, các bạn thân mến của tôi! Sự thật là thế này:
Nếu vào lúc nó tách khỏi thân xác, linh hồn được tinh sạch và không mang theo bất cứ gì từ thân xác — bởi trong suốt đời mình, nó tự nguyện không có gì chung với thân xác, ngược lại luôn lánh xa thân xác và không ngừng tập trung vào chính mình, coi đó là mục tiêu thường trực của sự rèn luyện — thì chẳng phải điều đó có nghĩa rằng linh hồn ấy đã thực hành triết học một cách đúng đắn, và thực sự luyện tập để "đã chết" (...) ? Và chẳng phải đó chính là điều người ta gọi là "tập chết" hay sao?"
"Pháp môn" của Socrate có thể được hình dung như rèn luyện một sự xả bỏ tất cả những dục vọng "thô lậu", được coi như đến từ thân xác, để tự tách khỏi cái thân xác ấy, đi tìm một sự tịch diệt, biểu tương bằng Hades, Thần Chết. Thật vậy, tách ly thân xác chính là sự chết, và phương pháp của Socrate là thưc tập chết đi trong mỗi giây phút ... Quan điểm này sẽ ảnh hưởng nhiều đến các nhà hiền triết cổ đại Hy La, trải sang Ky Tô Giáo.
§§§§§§§§§§§§§§§
Aristote
Aristote tập trung vào phần cao diệu nhất của con người. Lãnh vực ấy của tâm thức được ông coi như gắn liền với Thiên Chúa, là "Thiên Tính" trong chúng ta. Hoạt động của nó đem lại hạnh phúc lớn nhất. Lạc thú mà nó đem lại là lạc thú của sự hểu biết (Thiên Chúa là Hiểu Biết tuyệt đối), thanh cao và vững bền nhất. Lạc thú ấy có đối tượng là chính nó, và được yêu mến chỉ vì nó, không cần thực hiện bất cứ gì như các sinh hoạt khác của tâm trí, ngoài việc tự chiêm niệm.
"Nếu Trí Tuệ là một đặc tính của Thiên Chúa, thì sống theo trí tuệ là một cách sống thần thánh trong đời sống của con người. Đừng nghe những kẻ cho rằng con người, với trí khôn hạn hẹp, chỉ nên quan tâm đến nhân sinh thường ngày (...) mà phải cố làm mọi cách để sống theo phần tâm linh cao quý nhất của mình".
(theo Ethique à Nicomaque)
“Tự thân tư duy là tư duy về cái tự thân tốt đẹp nhất ; và tư duy tối thượng là tư duy về sự Thiện tối thượng. Trí tuệ tự tư duy chính mình khi nắm bắt cái khả tri, bởi vì nó trở thành chính cái khả tri khi tiếp xúc với đối tượng của mình, tức là tư duy về nó. Do đó có sự đồng nhất giữa trí tuệ và cái khả tri : nơi tiếp nhận cái khả tri, tức là bản thể hình thức của khả tri, chính là trí tuệ; và trí tuệ chỉ ở trong hiện thực khi nó chiếm hữu cái khả tri. Vì thế, hiện thực chứ không phải quyền năng, chính là yếu tố thần thánh có thể hàm chứa trong trí tuệ, và sự chiêm niệm điều ấy chính là hạnh phúc hoàn hảo và tối thượng.
Trạng thái hoan lạc này, mà chúng ta chỉ có được trong những khoảnh khắc nhất định, Thiên Chúa luôn có (…) ở mức độ cao hơn(...).
Sự sống thuộc về Thiên Chúa, bởi vì hoạt động của trí tuệ chính là sự sống, và Thiên Chúa chính là trí tuệ tự quán sát mình. Đó là sự sống hoàn hảo và vĩnh cửu. Thiên Chúa là một hữu thể sống vĩnh cửu và hoàn hảo.”
(Métaphysique)
Những phát biểu trên không khỏi làm liên tưởng đến "Đạt Ma Tổ Sư quán tâm pháp". Mọi sinh hoạt tâm trí "để làm chi đó", dù có thể đem lại lạc thú, nhưng cũng kéo theo nhiều phiền não, ưu tư. Thêm vào đó, các hoạt động ấy nhắm vào tương lai, tức một cái gì không thực, đồng thời đặt nền tảng trên những cảm nhận và tri thức được ghi nhớ, tức trên quá khứ, không còn hiện thực. Trong khi đó, sự chiêm niệm mà Aristote đề nghị, là quán chiếu chính cái Tâm của mình, trong hiện thực, chiêm niệm trí tuệ đang tư duy về chính nó, trong lúc này. Sự quan sát ấy được so sánh với trí tuệ của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa (toàn năng) không cần làm gì cả, mọi sự vật đều tự nhiên vận hành theo ý Ngài, nên Thiên Chúa chỉ hiện hữu trong sự quan sát chính mình.
Quan điểm này cũng sẽ hội nhập Ky Tô Giáo, như sẽ được bàn thêm.
§§§§§§§§§§§§§§§§§
Epicure :
Epicure (341-270 Trước Công Nguyên)
Epicure ý thức được rằng rất nhiều vấn đề nhân sinh đến từ tâm lý sợ chết, và giải quyết được nỗi sợ này là một trợ giúp lớn cho con người :
"Hãy gắn bó với những lời dạy mà tôi đã không ngừng, cũng như sẽ tiếp tục, lặp lại.
Bạn nên chăm chỉ chiêm niệm về chúng, và áp dụng chúng vào cuộc sống, với ý thức rằng : đó là những nguyên tắc cần thiết để có một cuộc sống tốt đẹp.
Để khởi đầu, bạn cứ tuân theo tín ngưỡng thông thường mà quan niệm Thần Linh như những sinh thể sống mãi trong hạnh phúc (...) Đồng thời, hãy nhìn Thần Linh ấy như kẻ thủ đắc tất cả những gì bạn có thể có, để được hạnh phúc và trường sinh (…).
Thật vậy, cái chết không là gì cả đối với chúng ta. Mọi sự, dù tốt hay xấu, đều nằm trong cảm giác : mà chết là không còn cảm giác. Vì thế, ý thức được rằng cái chết không là gì cả đối với chúng ta, giúp chúng ta hưởng thụ cuộc sống "hữu tử" của mình, không phải bằng cách thêm vào cuộc sống ấy một thời gian vô hạn, mà bằng việc trút bỏ dục vọng được sống mãi mãi (...)
Như thế, điều làm cho chúng ta kinh sợ nhất, là cái chết, trở thành hư huyễn, khi biết rằng khi chúng ta sống, sự chết không hiện hữu, và khi sự chết xảy ra, thì chúng ta không còn hiện hữu nữa để nhận biết nó."
(Thư cho Ménécée)
Trong đoạn văn trên, Epicure nhắc đến "dục vọng được sống mãi". Còn nhiều dục vọng khác, được ông phân loại trong đoạn văn sau :
"Trong những ham muốn của chúng ta, một phần thuộc loại tự nhiên, phần khác loại vô ích. Trong những ham muốn tự nhiên, có những ham muốn cần thiết, và những ham muốn chỉ tự nhiên. Trong số những ham muốn cần thiết, một số cần thiết cho hạnh phúc, một số cho sự bình an của cơ thể, số khác cho việc sinh sống. Đi vào thực tế , một lý thuyết không sai lầm về ham muốn phải gắn liền mọi lựa chọn và mọi loại trừ các ham muốn, với sự khỏe mạnh của cơ thể và sự bình an của tâm hồn, tức những gì cần thiết để kiện toàn cuộc sống hạnh phúc.
Lý do vì chúng ta luôn làm mọi thứ để tránh đau đớn cho thể xác, và xáo trộn trong tâm hồn. Khi đã làm được việc ấy, tức có được sự an tĩnh, thì không còn phải chạy theo bù đắp những thiếu thốn, tìm sự hoàn thiện cho tâm hồn và cơ thể.
Chúng ta chỉ cần niềm vui khi mà sự vắng mặt của nó đưa đến đau khổ. (...) Vì vậy, khi chúng ta nói rằng niềm vui là mục đích của cuộc sống, chúng ta không nói đến niềm vui của những kẻ đam mê lạc thú một cach vô độ lượng, như những người thiếu hiểu biết về học thuyết của chúng ta lầm tưởng. (...) Nguyên tắc cơ bản của tất cả những điều này, và vì thế, là lời khuyên giá trị nhất, chính là sự thận trọng."
(Thư cho Ménécée)
Ở đây chúng ta nhận ra nguyên tắc "thiểu dục, tri túc" (kinh Thủy Sám), hay "quả dục" như một trong bảy yếu quyết dưỡng sinh của nhà sư Tuệ Tĩnh. Epicure khuyên hạn chế những ham muốn không thuôc loại tự nhiên và cần thiết, như ăn uống ... Những ham muốn tự nhiên nhưng "không cần thiết" (như tình dục ...), thì chỉ vừa phải không quá độ. Còn các ham muốn không cần thiết như danh vọng, nhà cao cửa rộng, trang phục xa hoa, cao lương mỹ vị v.v... thì loại trừ được càng nhiều càng tốt, vì chúng thường kéo theo những phiền não, bất an.
Chúng ta cũng nhận ra quan tâm chủ yếu của Epicure là tránh đau khổ trong tâm hồn cũng như trong thân xác, như lời Phật nói trong kinh Cullavaga : « Cũng như nước các đại dương chỉ có một vị mặn, giáo lý của tôi chỉ có một vị, đó là vị giải thoát khỏi đau khổ » (Kinh Cullavaga).
Về "lời khuyên giá trị nhất, là sự thận trọng" thì chúng ta cũng nghĩ ngay đến thành ngữ "cẩn tắc vô ưu" của người Đông Á ...
Trong cuộc sống thực tế của ông, Epicure tách khỏi những phiền nhiễu của chốn hồn hoa đô hội, cùng bạn bè (nam và nữ) lui về một khu vườn, với châm ngôn được yết trên cửa : "Ở đây niềm vui là điều đáng quý nhất". Niềm vui trong một thân xác khỏe mạnh, không đau đớn, và trong một tâm hồn an tĩnh, thể hiện lời chúc : "thân tâm thường an lạc" của chúng ta.
Tóm lại, ông hình dung một nhà hiền triết như :
"Người kính trọng thần linh (1), không kinh sợ sự chết, hiểu được mục đích của thiên nhiên (2), ý thức rằng điều tốt nhất (3) dễ nhận ra, và dễ thực hành một cách trọn vẹn, trong khi điều xấu nhất thì bị giới hạn trong thời gian và cường độ.
Nhà hiền triết cũng coi thường định mạng, dù nhiều người nhìn định mạng như chủ nhân tuyệt đối của mọi sự.
Lý do vì nhà hiền triết nhận ra rằng các sự kiện, đều hoặc lệ thuộc sự cần thiết, hoặc lệ thuộc may mắn, hay lệ thuộc quyền lực của chính chúng ta. Khi lệ thuộc sự cần thiết, thì không thể gán được trách nhiệm cho ai, lệ thuộc may rủi thì là lệ thuộc cái vô định không thể đoán trước. Rốt cuộc chỉ có quyền lực của chúng ta, không bị chi phối bởi các yếu tố bên ngoài, là đầu mối của trách móc hay tán dương."
(Thư cho Ménécée)
Hiền triết, như thế, không phải là một lý tưởng, mà là trạng thái đạt đến được, với sự chuyên cần tập luyện :
"Hãy kết hợp tất cả những bài học này và tất cả những bài học liên quan đến nó, suy ngẫm chúng ngày đêm, một mình hay cùng với bạn hữu cùng chí hướng. Thực hành điều ấy, bạn sẽ không bao giờ cảm thấy lo lắng, khi ngủ hay khi thức, và sẽ sống như thần linh giữa những con người."
(Thư cho Ménécée)
Hậu thế sẽ ghi nhận nơi Epicure bốn phương thuốc "trị khổ" (Tetrapharmakos):
- Không sợ Thần Linh
- Không sợ chết
- An Lạc có thể đạt đến
- Đau khổ luôn chấm dứt
(1) "Kính nhi viễn chi" như lời Khổng Tử ?
(2) Epicure chia sẻ ý tưởng thiên nhiên có một mục đích với các triết gia khác kỷ.
(3) trong hoàn cảnh nhất định
§§§§§§§§§§§§§§§§§§
Ciceron (106-43 trước Công Nguyên)
Vị triết gia, chính trị gia, luật sư và nhà văn La Mã này rất gắn bó với quan điểm "tập chết" của Socrate, với đặc điểm là nhấn mạnh đến sự chuyên cần rèn luyện như một chiến binh luôn sẵn sàng ứng chiến (nhớ là mọi công dân nam giới La Mã đều là hay từng là chiến binh).
Ông viết :
"Cần nhắc nhở tâm hồn của chính mình, ép buộc nó phải là chính nó (không bị ràng buộc bởi những ràng buộc và dục vọng thấp kém - NHV), và tách nó ra khỏi cơ thể, càng nhiều càng tốt.
Tách tâm hồn ra khỏi cơ thể, chẳng phải là tập chết hay sao? (...) Hãy tách mình khỏi cơ thể, hãy làm quen với cái chết.
Bằng cách này, cuộc sống của chúng ta sẽ như sống trong thiên đường, và chúng ta sẽ sẵn sàng hơn để cất cánh, khi xiềng xích bị phá vỡ.
Những kẻ luôn bị chi phối bởi giác quan, sẽ khó có thể bay lên khỏi cuộc sống thế gian, ngay cả khi họ đã thoát khỏi xiềng xích. Họ sẽ giống như những tù nhân, bị trói buộc nhiều năm, không thể di chuyển dễ dàng.
Đối với chúng ta, thì khi ngày cuối cùng đến, chúng ta sẽ sống thực sự.
(Tusculanes)
Về nhu cầu chuyên cần rèn luyện, ông lấy người chiến binh làm gương mẫu :
Họ thao tập đến mức có thể sử dụng các "Vũ khí như một phần thân thể của mình" (...) Hãy mang đến cho tôi một người lính, người có trong tâm hồn những giá trị cao quý, nhưng
không trải qua một sự luyện tập tương đương ... Người ta sẽ coi anh ta như một phụ nữ. (...) Đây là những gì sự rèn luyện, chiêm niệm, trở thành thói quen có thể mang lại".
(Tusculanes)
Khi đạo Ky Tô du nhập đến La Mã, thì tư tưởng "tách khỏi thân xác", đã chờ sẵn ...
§§§§§§§§§§§§§§§§§
Marc Aurèle (121-180 trước Công Nguyên)
Marc Aurèle là một Hoàng Đế La Mã, một chiến tướng và một triết gia (xem phim "Gladiator" :-) ).
Ông đề nghị tập trung vào hiện tại, đồng thời chia tách những "kẻ địch" phải đối đầu để tránh giao chiến cùng lúc với nhiều đối thủ. Ông cũng lọc lựa trong những "địch quân" ấy, xem có ai thực sự khó loại trừ hay không, để an tâm vững tin vào chiến thắng :
"Hãy cẩn thận đừng để tâm trí rối loạn vì ôm trọn toàn bộ cuộc đời trong một cái nhìn. Đừng mất bình tĩnh trước tất cả những biến cố có thể ập đến với bạn. Ngược lại, trong mỗi hoàn cảnh, chỉ chú tâm vào hiện tại, và tự hỏi : “Trong những điều đang xảy ra với tôi, có gì tôi thực sự không thể đảm đương hay không?” (...)
Nhất là luôn ghi nhớ điều này: không phải tương lai, cũng không phải quá khứ, gây sức ép lên bạn, mà bao giờ cũng là hiện tại."
Khi cần một nơi an trú, thì đối với Marc Aurèle, đó là chính tâm hồn mình :
"Người ta tìm kiếm những nơi chốn xa xôi giữa đồng quê, bên bờ biển, trên núi cao (...) Những
tìm kiếm ấy thật kỳ lạ, vì bất cứ lúc nào bạn cũng có thể có được một
chỗ an trú trong chính mình. Thật vậy, không nơi nào con người
có thể tận hưởng một sự yên bình hơn và ít xáo trộn hơn trong
tâm hồn mình, nhất là khi ta tìm thấy trong đó những nguồn lực mà chỉ cần tập trung vào đó một
chút là sẽ lập tức cảm thấy hoàn toàn bình yên".
Các nguồn lực vừa nói phần lớn đến từ việc chiêm niệm một số nguyên tắc :
"Hãy ghi nhớ trong lòng những châm ngôn ngắn gọn bất di bất dịch này. Bạn chỉ cần suy ngẫm một
lúc, để ngay lập tức cả tâm hồn tìm lại sự thanh thản, để trở lại (...) công việc thường ngày".
Một vài đề tài chiêm niệm được Marc Aurèle liệt kê, như sau :
"Bạn bất bình vì sự độc ác của con người? Nhưng nếu bạn nhớ lại nguyên lý rằng tất cả những sinh vật có lý trí
đều được tạo ra cho nhau, rằng hỗ trợ lẫn nhau là một phần của công lý, và đa số những kẻ thù ghét, nghi ngờ, tranh cãi lẫn nhau, giờ đây đều nằm trong
đất lạnh và chỉ còn là nắm tro tàn, thì bạn có thể sẽ dễ dàng bình tĩnh lại".
"Phải chăng những vấn đề sức khỏe làm bạn bận tâm ? Hãy tự nhủ rằng, một khi tâm hồn đã nắm bắt được chính nó và thông hiểu bản chất của nó, thì sẽ không còn bị ảnh hưởng bởi những thay đổi thể chất, dù mạnh lên hay yếu đi.
Và hãy nhớ lại những châm ngôn mà bạn đã nhận được về nỗi đau và niềm vui" (Thí dụ : mọi đau đớn luôn chấm dứt - NHV).
"Liệu có phải là ý kiến đần độn của người khác làm bạn bực tức? Hãy nhìn xem những thứ ấy bị quên lãng nhanh chóng ra sao trong vực thẳm của thời gian (...). Hãy chiêm niệm sự vô nghĩa của mọi dư luận ồn ào, sự thay đổi và bất lực của những kẻ phê phán, kể cả những người đang vỗ tay ủng hộ bạn, cũng như sự hẹp hòi của nơi mà
danh tiếng bị giam cầm. Cả trái đất chỉ là một điểm, và nơi chúng ta sinh sống là góc gách nhỏ nhoi nhất của nó".
"Giữa những châm ngôn, hãy ghi nhận kỹ lưỡng hai điều này:
- thứ nhất, rằng không gì trực tiếp tác động được đến tâm hồn chúng ta (...) Những rối loạn trong tâm hồn chỉ đến từ ý niệm mà chính chúng ta tạo ra về chúng
- thứ hai, rằng tất cả những điều bạn thấy sẽ thay đổi trong chốc lát, và ngay lập tức (vô thường !)
chúng sẽ không còn hiện hữu nữa. Hãy liên tục quán tưởng tất cả những thay đổi mà chính bạn đã
quan sát được. Thế giới chỉ là một sự biến đổi liên tục; cuộc sống chỉ là một ý tưởng và một quan điểm".
Là một triết gia thuộc trường phái khắc kỷ, Marc Aurèle tin vào những quy luật tối thượng điều hành tất cả. Sự hiện hữu của mọi sự kiện, cũng như hành vi của chúng ta và của mọi người khác, đều được quy định cho một mục tiêu vượt ngoài mọi hiểu biết. Vì thế, thản nhiên thi hành chu đáo bổn phận của mình và chấp nhận những gì xảy đến như thuộc về một trật tự tối ưu, là thái độ tốt đẹp nhất. Nhớ câu của Gia Cát Lượng :
"Làm hết sức mình, đến chết mới thôi, còn thành hay bại thì tùy thuộc thần minh, không cần quan tâm" (Cúc cung tận tụy, tử nhi hậu dĩ, chí ư thành bại lợi độn, phi thần nhi minh, bất năng nghịnh đổ dã)
Các trích dẫn đều lấy từ "Pensées pour moi-même"
NGUYỄN Hoài Vân
§§§§§§§§§§§
Đọc thêm :
- Sự vô ích của việc dời đổi nơi chốn để chữa lành tâm trí - Seneque
- Trút bỏ cái tôi và đời sống vĩnh cửu - Lucrèce (98-55 TCN)