Đọc phần 1
I) VÀI SUY NGHĨ VỀ THỜI HIỆN ĐẠI :
A) CÁC TIÊU CHUẨN CỦA THỜI HIỆN ĐẠI :
Thời đại trong đó chúng ta đang sống bao gồm một số tiêu chuẩn được đề ra một cách quy ước. Có nhiều quy ước, và nhiều tiêu chuẩn. Chúng tôi xin chọn chỉ bàn đến ba tiêu chuẩn chính. Đó là:
-sự phát triển của khoa học
-sự đẩy lùi tinh tôn giáo ra khỏi môi trường sống của con người
-sự lãnh đạo của một số hình thái kinh tế thường được gắn
liền với khái niệm Tư Bản Chủ Nghĩa.
B) NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA THỜI HIỆN ĐẠI :
Chúng ta chỉ có thể chọn vài vấn đề tiêu biểu. Trước hết, xin ban sơ qua về Tư Bản Chủ Nghĩa (13).
1) Tư Bản Chủ Nghĩa
Tư bản chủ nghĩa được định nghĩa như một mô hình tổ chức xã hội trong đó phương tiện sản xuất và phương tiện trao đổi nằm trong tay tư nhân. Tư nhân có khuynh hướng đặt tư lợi lên trên hết. Vì thế, một trong những động cơ chính yếu của xã hội tư bản là HIẾU LỢI. Để được lợi, tư bản chủ nghĩa đẩy mạnh sản xuất và tiêu thụ.
Vì cần đẩy mạnh tiêu thụ, nên xã hội tư bản thường ôn hòa rộng rãi, và khuyến khích CÁ NHÂN CHỦ NGHĨA. Thật vậy, nếu hẹp hòi, quá khích, thì phải loại bỏ bớt một phần xã hội, tức bớt số người tiêu thụ. Mặt khác, cá nhân cần dược đề cao, cần có tự do, cần có một mức sống nào đó, để kích thích mỗi cá nhân tiêu thụ ngày một thêm lên.
Về chính trị, xã hội tư bản thường thiên về một thể chế ĐA NGUYÊN. Lý do vì phương tiện trao đổi và sản xuất là thực chất của quyền hành, mà những phương tiện ấy lại nằm trong tay tư nhân, nên thực chất quyền hành trong xã hội dễ bị phân tán, trở thành “đa nguyên”. Tuy nhiên, dù bị phân tán, quyền hành vẫn nằm trong tay người có phương tiện sản xuất và trao đổi, khiến cho các xã hội tư bản thường đi vào con đường DÂN CHỦ HÌNH THỨC.
Vì được điều hành bởi tư lợi, kiểu dân chủ hình thức, nên các xã hội tư bản rất hay được quản lý một cách THIỂN CẬN.
2) Sự phát triển của khoa học dưới sự lãnh đạo của Tư Bản Chủ Nghĩa
Tính duy lợi và thiển cận của các xã hội tư bản khiến sự phát triển của khoa học thường đưa đến hai loại vấn đề :
-Thứ nhất là ô nhiễm, tàn phá môi sinh, và lãng phí tài nguyên thiên nhiên. Lý do vì các khám phá khoa học được ưu tiên hướng đến việc gia tăng sản suất (sản suất những hàng hóa mới, hay những hàng hóa sẵn có, nhưng nhanh hơn và nhiều hơn), cũng như gia tăng nhu cầu tiêu thụ. Gia tăng tiêu thụ và sản xuất đưa đến gia tăng ô nhiễm cũng như phí phạm tài nguyên thiên nhiên. Đó là chưa kể đến những tai hại đặc biệt của việc sản xuất và tiêu thụ khí giới...
-Thứ hai là vấn đề cạnh tranh giữa cái máy và sức người, làm gia tăng nạn thất nghiệp. Vì hiếu lợi, các xí nghiệp bị cám dỗ sử dụng máy móc thay con người, để làm giảm giá thành của hàng hóa, khiến cho sự phát triển kinh tế không còn tạo thêm công ăn việc làm như người ta vẫn thường tin tưởng. Thật vậy, gia tăng sản xuất bây giờ phần lớn do gia tăng năng xuất của máy móc, chứ không cần đòi hỏi thêm nhân công như trước.
3) Con người trong xã hội tư bản :
Con người trong xã hội tư bản còn gặp phải một số vấn đề khác như :
-Bị cô lập đối với thiên nhiên, trong những đô thị lớn, gây nên cảm giác xa lạ đối với thiên nhiên.
-Bị cô lập đối với những con người khác, do khuynh hướng cá nhân chủ nghĩa nằm trong bản chất của xã hội tư bản.
-Bị đánh giá theo khả năng tiêu thụ của mình : anh “hơn” tôi vì anh có nhà sang hơn, xe lớn hơn, quần áo đắt tiền hơn tôi v.v...Con người tiêu thụ được tôn trọng, có nhiều quyền ("khách hàng là Vua"), trong khi con người sản xuất bị coi rẻ. Tại các nước tiền tiến, con người sản xuất cũng là con người tiêu thụ, và được tôn trọng. Trong khi đó, ở những quốc gia mà khả năng tiêu thụ còn quá kém, con người chỉ đơn thuần là “con người sản xuất”, thì sanh mạng, đời sống cũng như nguyện vọng của những con người này rất “rẻ” (14). Vì bị đánh giá theo khả năng tiêu thụ, nên con người thời đại luôn lo lắng bám víu vào khả năng này để duy trì giá trị con người của mình. Kết quả là một tâm trạng ích kỷ, và luôn ưu tư, lo lắng, nhất là đối với nạn thất nghiệp, được coi như một “định chế” của nhiều xã hội tư bản.
Ngoài ra, vai trò của con người trong xí nghiệp cũng đưa đến nhiều vấn đề quản trị phức tạp. Thật vậy, sự phát triển của phương thức sản xuất và sự biến hóa rất nhanh của thị trường khiến các xí nghiệp luôn phải nỗ lực thích nghi với hoàn cảnh mới. Khả năng thích nghi là một khả năng đặc thù của các sinh vật, trong đó có con người, chứ hoàn toàn không phải là sở trường của máy móc. Vì thế người ta không mấy ngạc nhiên khi thấy, mặc dù nằm trong bối cảnh cơ giới hóa mạnh mẽ hiện nay, các xí nghiệp vẫn thường nói đến nhu cầu quản lý nhân lực như một yếu tố rất quan trọng để phát triển (15). Người ta than phiền về sự rời rạc trong tổ chức nhân sự, với những đối kháng giữa chủ và thợ, giữa các cấp bậc trong xí nghiệp, về sự thiếu sốt sắng trong công việc làm, thiếu sáng kiến từ dưới lên, thiếu mềm dẻo trong những liên hệ giữa các cấp bậc, các ngành chuyên môn, đưa đến kiến thức và tin tức không lưu chuyển, thiếu tinh thần trách nhiệm đối với những mục tiêu của xí nghiệp, thiếu sự đào tạo liên tục, thợ thuyền ở tầng cấp dưới thiếu kiến thức tổng quát về hàng hóa mình sản xuất, v.v... (16)
Người ta không khỏi nghĩ đến sự thành công của những “mô hình xí nghiệp phôi thai” ở thời Trung Cổ là các tu viện Khổ Tu Công Giáo, đặc biệt là các tu viện Citeaux, và gần đây hơn, đến vai trò của Đạo Tin Lành trong sự phát triển của các xí nghiệp kỹ nghệ đầu tiên (theo Max Weber), và tự hỏi về tầm quan trọng của yếu tố tinh thần trong sự phát triển (16). Điều này đưa chúng ta sang lãnh vực tôn giáo.
4) Sự lùi bước của Tôn Giáo trong thời hiện đại :
a) Khoa học và tôn giáo :
Sự phát triển của khoa học có khuynh hướng đưa Thần Thánh ra ngoài sự sống. Khoa học đem lại những giải thích duy lý cho các sự kiện mà con người cảm thấy trong cuộc sống mà không cần dùng đến các yếu tố thiêng liêng. Thần Thánh, Thiên Chúa, không còn cần phải can thiệp vào mỗi sự việc của cuộc sống nữa. Mặt trời không còn là cỗ xe ngựa, mỗi sáng phải chờ Thần Apollon leo lên lái chạy một vòng trên vòm trời, và cây cỏ, sông, biển, bão tố, mùa màng, bệnh tật v.v...sẽ chỉ còn tuân theo những định luật vật chất. Thậm chí, người ta biện minh được cho cả những quy luật điều hành các hiện tượng tâm thần (như với Freud), và các hiện tượng xã hội (với Xã Hội Học từ Auguste Comte tới sau này). Thế thì Thần Thánh, hay Thượng Đế, giỏi lắm cũng chỉ được coi như những thế lực đã làm ra những định luật kia, rồi được mời...đi chỗ khác chơi ! Điều này đưa đến những hậu quả quan trọng trong đời sống con người.
b) Con người là con người tôn giáo :
Thật vậy, theo những nghiên cứu gần đây, đặc biệt là của Mircea Eliade, thì “tính tôn giáo” không chỉ hiện hữu trong trạng thái ấu trĩ của loài người mà ngược lại, thuộc về bản chất của cái mà Pascal gọi là “cây sậy biết suy tư" (17). Vì thế, Eliade gọi con người là “con người tôn giáo” (homo religiosius), coi tôn giáo như thuộc về định nghĩa của con người, thuộc về “cái tôi” của mỗi người.
Thế nhưng, như vừa nói, với sự phát triển của khoa học, tính tôn giáo nơi con người bị mờ nhạt đi, và như thế là con người đã đánh mất đi một phần cái tính người của mình. Đó là hiện tượng “vong thân”, khi “ta không còn là ta”. Điều này đưa đến một số phản ứng. Khi anh mất cái gì thì anh lo lắng tìm kiếm. Trong điều kiện tìm không ra, thì anh bực bội, cáu kỉnh, thần kinh căng thẳng. Việc tìm kiếm “cái tôi mà tôi không chấp nhận được” (do sự cản trở của óc khoa học) là một sự tranh đấu giữa tôi và tôi, với những tàn phá trên chính “cái tôi”, và những lãng phí năng lượng quan trọng.
Mặt khác, đánh mất tính tôn giáo cũng là đánh mất một mối liên hệ quan trọng giữa mình và người khác, đưa đến một sự cô lập nào đó đối với đồng loại. Sự cô lập ấy có thể đem lại nhiều hoang mang, vì nó khiến cho cuộc đời của mỗi người không còn liên hệ với một định mệnh lý tưởng chung của loài người nữa. Tôi sẽ đi về đâu ? tôi sống để làm gì ? v.v...trở thành những câu hỏi nặng nề, không trả lời được.
Với tôn giáo, trong nghịch cảnh, người ta vẫn còn có thể hy vọng nơi một định mệnh tốt đẹp chung của loài người, hay ít ra cũng có được một phương thế để ảnh hưởng trên những thế lực thần thánh điều hành những nghịch cảnh ấy, thí dụ cầu nguyện cho hết lụt, cho mưa thuận gió hòa v.v...Ngày nay, một con người thời đại, lỡ có bị thất nghiệp, liền được giải thích rằng : sở dĩ anh thất nghiệp là vì Bundesbank (18) tăng tiền lời, hay giá Đô La tuột dốc, hay thị trường chứng khoán ở Tokyo trồi sụt sao đó, v.v...Thử hỏi anh ta có thể làm gì được để ảnh hưởng trên những chuyện ấy ? Ông Thần, ông Thánh nào ảnh hưởng được trên Bundesbank, trên Federal Reserve, trên chỉ số Dow Jones, hay Nikkey ? Rốt cuộc vẫn là hoang mang, lo lắng, cảm giác bất lực, đưa đến thối chí, tuyệt vọng.
Phai nhạt tính tôn giáo, là tự cắt đứt phần nào với đồng loại, và cũng là một cách cắt nghĩa hiện tượng “cá nhân chủ nghĩa” của người thời đại. Không những “cá nhân chủ nghĩa” thái quá dễ đưa đến buồn bã, chán nản, mà, theo một số học giả, nó còn có thể làm suy yếu khả năng phát triển kinh tế, một ưu tư lớn của xã hội tư bản.
c) Tư Bản Chủ Nghĩa và Tôn Giáo :
Xã hội tư bản coi tôn giáo như một món hàng, nên cũng quý trọng tôn giáo, như quý trọng hàng hóa. Ngoài ra, tôn giáo cũng là phương tiện để duy trì sự ổn định xã hội. Có thể nói, trong một xã hội bất công, tôn giáo cho con người một cảm tưởng bình đẳng. Tuy nhiên những quan hệ vừa kể với tôn giáo không đủ để cho xã hội tư bản hưởng được những đóng góp có tính cách nền tảng của tôn giáo, thí dụ như việc đem lại một ý nghĩa cao quý, thăng hoa cho công việc làm. Con người trong xã hội tư bản làm việc cho mình, với một tinh thần duy lợi riêng tư. Điều này, rất dễ đưa đến nhàm chán, buồn bã, hoang mang, lo sợ, cũng như thái độ luôn luôn bất mãn thường thấy nơi con người thời đại. Thật vậy, nghĩ đến mình nhiều quá, thì cái gì cũng lo, cũng sợ, cũng than thở, sầu bi, hoặc bất mãn, tức giận, dù cho mình có nhiều may mắn cách mấy so với những người thực sự khốn khổ. Thậm chí đến sự đồng thuận mà nhiều người đề cao trong xã hội tư bản cũng chỉ là đồng thuận trên căn bản bảo vệ quyền lợi ích kỷ của các tập đoàn hay thế lực trong xã hội. Điều này không đương nhiên đưa đến những giải pháp tốt đẹp cho toàn xã hội. Nó có thể khiến xã hội trở thành rời rạc, mỗi tập đoàn cố bám víu lấy những quyền lợi riêng của mình, bất chấp quyền lợi chung. Đây cũng có thể trở thành một trở ngại cho phát triển.
(xem tiếp phần 3)
CHÚ THÍCH :
(13).Cũng xem “Nhân Trị và Pháp Trị"- Nguyễn Hoài Vân - Tóm lược bài nói chuyện tại Maison des Mines, Paris, 26/5/91 - Giao Điểm (Hoa Kỳ) số 5 Diễn Đàn Thanh Niên (Hoa Kỳ), Tia Sáng (Đức), số 18, Điểm Tin Báo Chí (Tiệp) số 34, Việt Luận (Úc) và vài báo khác.
(14).Sức khỏe của người dân chỉ đáng giá 5 Mỹ Kim một năm tại các nước nghèo, nhưng lên tới 1900 Mỹ Kim tại Hoa Kỳ (Tribune Médicale, 5/1990). Theo Ngân Hàng Thế Giới, chi phí hàng năm cho sức khỏe của dân chúng ở các nước có dưới 635 USD lợi tức đầu người mỗi năm, là 6 USD, trong khi tối thiều cần 12 USD (Quotidien du Médecin 26/5/94)
(15).Đề tài của cuộc Hội Thảo được tổ chức tại UNESCO do Báo Le Monde chủ xướng, khai mạc bởi Thủ Tướng Michel Rocard, với sự tham dự của bộ trưởng Kỹ Nghệ Fauroux, và nhiều chủ nhân Đại Công Ty Pháp, tháng 10 năm 1988 (Le Monde 13/10/1988).
(16).Trong cuộc Hội Thảo nêu trên (chú thích 15) và trong “Sortir de la crise” - S.C.Kolm - Ed Pluriel - Paris.
(17)"Con người là một cây sậy, nhưng một cây sậy biết suy tư” - Pascal.
(18) Bundesbank (Ngân hàng Liên Bang Đức), vì phải ngăn chặn áp lực lạm phát do những phí tổn của việc thống nhất nước Đức, đã áp dụng lãi suất cao,làm trì trệ kinh tế của Âu Châu, và phần nào của cả thế giới.
Đọc tiếp phần 3